Các hạng giấy phép lái xe tại Việt Nam

Điều 57 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ hiện hành quy định, từ năm 2025 có tất cả 15 hạng giấy phép lái xe, bổ sung thêm 2 hạng là C1 và D2 so với trước đây.

Cụ thể, hạng C1 được tách ra từ hạng C, áp dụng cho người điều khiển ô tô tải và xe chuyên dùng có khối lượng toàn bộ theo thiết kế từ trên 3,5 tấn đến 7,5 tấn. Trước đây, nhóm phương tiện này chưa có hạng giấy phép lái xe riêng mà được gộp chung với các xe tải lớn hơn trong hạng C. Việc bổ sung hạng C1 giúp phân loại rõ ràng hơn theo tải trọng, phù hợp với trình độ, kỹ năng của người lái và tiệm cận với chuẩn phân hạng giấy phép lái xe của nhiều quốc gia.

Trong khi đó, hạng D2 được tách từ hạng D, dành cho người lái ô tô chở người từ 17 đến 29 chỗ ngồi, kể cả người lái xe. Trước đây, tất cả các loại xe chở người trên 16 chỗ đều sử dụng chung giấy phép lái xe hạng D, dẫn tới phạm vi điều khiển phương tiện khá rộng. Việc bổ sung hạng D2 giúp quản lý chặt chẽ hơn đối với nhóm xe khách cỡ trung, đồng thời nâng cao yêu cầu về đào tạo, sát hạch phù hợp với từng loại phương tiện.

Theo quy định hiện hành, người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông bắt buộc phải mang theo giấy phép lái xe phù hợp với loại xe đang điều khiển và xuất trình khi có yêu cầu của lực lượng chức năng. Đây là giấy tờ pháp lý chứng minh người lái xe đủ điều kiện về năng lực, sức khỏe và kiến thức để tham gia giao thông. Trường hợp không mang theo, không xuất trình được hoặc sử dụng giấy phép lái xe không hợp lệ, người điều khiển phương tiện sẽ bị xử phạt theo quy định, thậm chí có thể bị tạm giữ phương tiện trong một số trường hợp.

Bài viết hay? Hãy đánh giá bài viết

  • Quan tâm nhiều nhất
  • Mới nhất

15 trả lời

15 trả lời